Tác dụng của cây Trúc Đào và lưu ý khi dùng loại cây này

Cây trúc đào được trồng ở Việt Nam rất là nhiều. Nhưng đây là loại cây rất độc nên cần chú ý khi tiếp xúc với cây. Ngoài ra, dược tính trong lá trúc đào còn được ứng dụng làm thuốc chữa suy tim. Hãy cùng tìm hiểu rõ hơn về cây trúc đào trong bài viết sau nhé!

Những nội dung chính có trong bài viết:

Cây trúc đào là cây gì ?

Cây trúc đào có tên khoa học là Nerium oleander L., Họ Trúc đào Apocynaceae hay cây trúc đào có tên khác là cây Đào lê, Giáp trúc đào.

Hình ảnh cây trúc đào

Hình ảnh cây trúc đào

Mô tả về cây trúc đào

Đặc điểm thực vật, phân bố của cây trúc đào.

Trúc đào là một cây nhỡ, có thể cao 4 đến 5m, có khi trồng thành bụi. Cành mềm dẻo. Lá Trúc đào mọc đối hay mọc vòng từng cụm 3 lá, thuộc loại lá đơn, mép nguyên, cuống ngắn. Phiến lá hình mác, dài 7 đến 10cm, rộng từ 1 đến 4cm, dai, cứng, mặt trên màu xanh sẫm, mặt dưới màu nhạt hơn. Hoa màu hồng, mọc thành cụm bông ở hai đầu cành.

Vì lá Trúc đào giống lá Trúc, hoa giống hoa Đào do đó có tên là Trúc đào. Cây được trồng làm cảnh ở khắp các tỉnh trong cả nước. Bạn hoàn toàn có thể tìm mua được dễ dàng cây để trồng.

Cấu tạo lá cây trúc đào.

Lá tập trung ở ngọn, đơn, nguyên, mọc vòng 3 hay mọc đối (lá cuối của mỗi cành), lá thon hẹp, có mũi nhọn, dài 7 đến10 cm, rộng 1 đến 4 cm, mặt trên xanh thẫm, mặt dưới nhạt. Mép lá cong xuống ở mặt dưới. Cuống lá dài 7 đến 9 mm, hình lòng máng, có nhiều tuyến màu nâu thường tập trung ở mặt trên, đáy cuống lá. Gân lá hình lông chim, gân chính nổi rõ ở mặt dưới; gân phụ nhiều, đều, song song hai bên gân chính, không nổi rõ ở mặt dưới.

Đặc điểm về vi phẫu lá trúc đào

Gân giữa: Lồi rõ ở mặt dưới, mặt trên phẳng, hơi lõm ở giữa. Biểu bì trên và biểu bì dưới 1 lớp tế bào nhỏ xếp đều đặn, mang lông che chở, bên ngoài có phủ một lớp cutin dày. Dưới biểu bì là đám mô dày góc. Mô mềm gồm những tế bào màng mỏng, hình tròn hay bầu dục dẹp, kích thước khác nhau, chứa tinh bột và nhiều tinh thể calci oxalat hình cầu gai.

Có nhiều tinh thể calci oxalat hình khối ở libe. Bó libe-gỗ chồng kép hình vòng cung gồm những đám libe tế bào nhỏ xếp thành 2 cung bao bọc lấy cung gỗ. Nhiều đám sợi vách bằng cellulose xếp mặt trên và mặt dưới cung libe.

Phiến lá: Tế bào biểu bì nhỏ, xếp đều đặn mang lông che chở, bên ngoài có phủ một lớp cutin dày. Bên dưới biểu bì trên và dưới có 3-4 lớp tế bào mô dày. Mô mềm giậu gồm 2-3 lớp. Mô mềm khuyết gồm những tế bào màng mỏng, phân nhánh, chừa khuyết to. Biểu bì dưới có nhiều phòng ẩn lỗ khí lớn, có nhiều lông che chở đơn bào dài. Tinh thể calci oxalat hình cầu gai ở phần tiếp giáp giữa mô mềm giậu và mô mềm khuyết.

Cây hoa trúc đào

Cây hoa trúc đào

Cách trồng cây trúc đào

Trồng Trúc đào bằng cành. Cắt cành bánh tẻ thành từng đoạn dài 15 – 20cm, cắm nghiêng, tưới nước để giữ độ ẩm, trong vòng 15 – 30 ngày là cây mọc.

Phân bố: Đây là một loại cây ngoại lai, chưa biết di thực vào nước ta trong khoảng tời gian nào. Trong tự nhiên cây mọc hoang ở những vùng ven biển. Đây cũng là một loại cây có tính thẩm mỹ rất cao nên thường được nhiều người lựa chon để trồng làm cảnh

Cây trúc đào hoa vàng hoặc có tên gọi khác là cây thông thiên. Đây là cây thân gỗ, toàn cây có tiết mũ màu trắng. Ở Việt Nam, hoa thông thiên có màu vàng rực, ở một số nơi khác hoa có màu vàng cam, hoa thường có 5 cánh. Trái có hình thoi màu xanh.

Mua cây trúc đào ở đâu ?

Trúc đào ở Việt Nam được trồng làm hàng rào hoặc cây bên ven đường rất nhiều. Cây mọc rất khỏe chỉ cần giâm cành xuống là mọc được. Cho nên bạn không cần phải đi mua. Hoặc chúng ta có thể đến những cơ sở chuyên cung cấp những giống cây cảnh thì đây cũng là một loại cây được bán rất nhiều.

Trúc đào chủ yếu được trồng ở các tỉnh phía bắc, thích hợp với khí hậu mát và lạnh.

Tác dụng của cây trúc đào

Trong các bộ phận của cây đều chứa chất nhựa màu kem, vàng vàng rồi hóa lục. Trong lá Trúc đào người ta nghiên cứu thấy có cardenolid, oleandrin, oleasids A…F, neriolin. Trong lá còn chứa nhựa, tanin, một loại parafin, vitamin C, tinh dầu.

Công dụng, chủ trị cây trúc đào: Chiết xuất nguyên liệu chế Neriolin làm thuốc chữa suy tim.

Cách dùng chất Oleandrin được chiết xuất từ cây trúc đào. Đây là một loại chất có tác dụng hấp thụ nhanh hơn rất nhiều sơ với các chất digitoxin. Mỗi ngày bệnh nhân bị suy tim nên uống từ 2-3 lần, mỗi lần nên uống 1 viên 0,1mg hoặc đối với dung dịch thì là 1/5000 trong cồn 70 độ.

Ngoài việc là thành phần chính cung cấp các chất neriolin được sử dụng cho việc chế xuất ra các loại thuốc chữa bệnh tim ra thì cây trúc đào có một công dụng khác đó là dùng để làm cảnh nâng cao tính thẩm mỹ cho môi trường xung quanh do đây là một loại cây có hoa rất đẹp và nổi bật. Cây thường dùng để trồng ven đường, tường rào… để làm đẹp.

Cách bào chế thuốc từ cây trúc đào

Giai đoạn chiết xuất: Khai thác lá cây trúc đào ngoài tự nhiên sau đó đem về rửa sạch và để phơi khô trong điều kiện có mái tre đến khi lá cây chỉ còn chữa khoảng 15% nước thì chúng ta đem đi cắt nhỏ. Ngâm lá cây sau khi đã sơ chế vơi rượu theo tỷ lệ cứ 1kg lá/ 10 lít rượu trong khoảng 1 ngày thì có lọc và ép nước.

Loại bỏ tạp chất: Đổ phần rượu sau khi đã được lọc vào vai sành hoặc thùng sau đó chúng ta cho thêm dung dịch chì axetat 30% và quan sát xem rượu có còn đục hay không, nếu vẫn đục thì đổ thêm dung dịch chì axetat vào để tạo kết tủa. Để qua 1 đêm phần kết tủa sẽ lắng xuống và lấy phần nước trong. sau đấy sử dụng dung dịch natri sunfat 15%  và giấy lọc để tiếp tục khử phần kết tủa

Tinh chế thuốc: Sau khi loại bỏ tạp chất thì cho dung dịch từ cây trúc đào vào bình thủy tin và và đun trên nồi hấp để thu hồi cồn. Nhiệt độ luôn luôn phải duy trì 50-55 độ sau đấy qua một vài công đoan phức tạp nữa chúng ta sẽ thu được chất neriolin vô cùng tinh khiết có chứa trong cây trúc đào

Lưu ý: Công việc bào chế trên phải được thực hiện bởi các nà nghiên cứ hóa học có chuyên môn cao trong nghề. Bệnh nhân không được phép tự ý đi thu hoạch lá cây trúc bạch về nhà để điều chế thuốc chữa bệnh. Như vậy sẽ rất nguy hiểm

Lưu ý khi sử dụng cây trúc đào

Cấm dùng Trúc đào làm thang thuốc sắc hoặc ngâm rượu thuốc vì có thể gây ra những hậu quả vô cùng nghiêm trọng đối với người bện

Triệu chứng ngộ độc: Đây là tình trạng ngộ độc Glocozide tim. Bệnh nhân có thể nôn dữ dội, sau đó mệt lả, không buồn nôn. Nhức đầu, chóng mặt, đau bụng. Mạch chậm dần, rối loạn nhịp tim, nặng hơn có thể trụy tim mạch, tụt huyết áp, hôn mê.

Giải độc và điều trị: Loại bỏ chất độc ra khỏi cơ thể bằng cách gây nôn, rửa dạ dày. Ủ ấm, theo dõi mạch, huyết áp thường xuyên. Nhanh chóng chuyển cấp cứu tuyến sau, nhịp tim quá chậm (dưới 50 lần/ phút) có thể tiêm dưới da Atropin liều 0,5 – 1,0 mg (2- 4 ống loại 1/4mg). Và có thể tiêm nhắc lại lần 2 sau 2 giờ (liều dùng 1/4mg).

Bài viết này đã giúp bạn hiểu hơn về cây trúc đào rồi phải không nào. Hãy lưu ý và cẩn thận hơn khi tiếp xúc với cây nhé để tránh ngộ độc đáng tiếc có thể xảy ra. Hãy tham khảo ý kiến của bác sĩ trước khi sử dụng. Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết.

Author: thoaihoa

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *